Your Shopping Cart
Total Items:
SubTotal:
Tax Cost:
Shipping Cost:
Final Total:

Sunday, December 29, 2013

Gốm sứ Việt Nam qua các thời đại

Gốm sứ Việt Nam qua các thời đại

gom su bat trang
gốm sứ bát tràng

Có thể nói rằng, trong dòng chảy của lịch sử nhân loại. Sự ra đời của đồ gốm sứ, mà trước hết là đồ gốm, đánh dấu một cột mốc vô cùng quan trọng. Ngay từ 8000 năm trước công nguyên, Các đồ gốm đầu tiên đã được tìm thấy ở Găng – đa – rê (Iran), Mu – rây – bát (Sire). Và xuất hiện ở Bắc Phi khoảng thiên niên kỷ thứ 10 trước công nguyên, ở Nam Mỹ  khoảng thiên niên kỷ thứ 7 trước công nguyên. Đồ sứ ra đời muộn hơn đồ gốm khá lâu, đến năm 620 sau công nguyên, Trung Hoa mới là nước đầu tiên sản xuất Sứ trên thế giới.


Nghề làm gốm là một trong những nghề có truyền thống lâu đời nhất tại Việt nam. Kết quả khảo cổ học cho biết đồ Gốm đã được người Việt chế tác, sử dụng cách đây khoảng 10. 000 năm.
Trải qua năm tháng, Gốm sứ không chỉ còn là những đồ dùng thủ công phục vụ nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người: chén, nồi, ấm, đĩa… mà còn hơn thế, gốm sứ đã trở thành một nét hồn dân tộc, trở thành một vẻ đẹp riêng, một niềm tự hào riêng nói lên cốt cách, tâm hồn của cả một đất nước.


 


tho_gom_bat_trang-01

Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lí và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò".




Người thợ gốm quan niệm hiện vật gốm không khác nào một cơ thể sống, một vũ trụ thu nhỏ trong đó có sự kết hợp hài hòa của Ngũ hành (五行) là kim (金), mộc (木), thuỷ (水), hoả (火) và thổ (土). Sự phát triển của nghề nghiệp được xem như là sự hanh thông của Ngũ hành mà sự hanh thông của Ngũ hành lại nằm trong quá trình lao động sáng tạo với những quy trình kĩ thuật chặt chẽ, chuẩn xác.

Gốm thời Lý (1010-1224)


Đồ gốm tráng men thời Lý có : gốm men trắng ngà,men nâu và men ngọc màu xanh. Gốm men ngọc thời Lý rất tinh tế, xương đất được lọc kỹ, dày và chắc. Lớp men gốm dày phủ kín xương gốm,mịn,bóng, sờ có cảm giác mát tay. Xương gốm và lớp men bám vào nhau rất chắc.Men trong suốt, sâu thẳm,mịn,lấp lánh ánh sáng. Gốm men ngọc xanh có điểm thêm các sắc vàng chanh, vàng xám nhạt, vàng rơm.

 


Gốm men trắng Lý có độ trắng mịn và óng mượt và phần nhiều về chất lượng đã đạt tới trình độ sứ. Sự khác nhau giữa gốm trắng Lý và gốm trắng Tống (Trung Quốc) chủ yếu được nhìn nhận qua sắc độ đậm nhạt của màu men hay xương gốm và kỹ thuật chế tác. Đây cũng là đặc điểm khó phân biệt giữa gốm trắng Lý với gốm trắng Tống.



Gốm thời Trần (1225-1339)


Gốm thời Trần tìm được khá nhiều trong các hố khai quật và thường được tìm thấy cùng với những đồ gốm trang trí kiến trúc cùng thời. Gốm thời kỳ này có rất nhiều loại, gồm các dòng gốm: men trắng, men ngọc, men xanh lục, men nâu, hoa nâu và hoa lam.
Do phát triển kế thừa trực tiếp từ gốm thời Lý, nên các loại gốm thời Trần cơ bản có phong cách giống với gốm thời Lý cả về hình dáng, màu men và hoa văn trang trí. Cũng chính vì đặc thù này nên việc phân tách giữa gốm thời Lý và gốm thời Trần là điều không phải dễ dàng. Tuy nhiên, dựa vào một số kết quả nghiên cứu kỹ thuật tạo chân đế, hiện nay chúng tôi bước đầu đã có thể phân biệt được sự khác nhau giữa gốm Lý và gốm Trần.


 


Do gom trong Hoang thanh Thang Long Gom thoi Tran  Do gom trong Hoang thanh Thang Long Gom thoi Tran  Do gom trong Hoang thanh Thang Long Gom thoi Tran  anh4.jpg
Nhìn chung, kỹ thuật tạo chân đế của gốm thời Trần thường không được làm kỹ như gốm thời Lý. Về hoa văn trang trí cũng vậy, mặc dù có cách bố cục hoa văn như thời Lý, nhưng về chi tiết gốm thời Trần không tinh xảo và cầu kỳ như gốm thời Lý. Đặc biệt đối với gốm men độc sắc, bên cạnh loại gốm trang trí hoa văn khắc chìm, thời Trần còn phổ biến loại gốm có hoa văn in khuôn trong. Dường như đây là loại hoa văn rất phát triển ở thời Trần và nó có sự phong phú, đa dạng hơn nhiều về hình mẫu so với gốm thời Lý. Tại hố đào ở khu D cũng đã tìm thấy mảnh khuôn in gốm thời kỳ này cùng nhiều mảnh bao nung, con kê và đồ gốm phế thải. 

Gốm thời Lê sơ (1428-1526)


    * Chu Đậu
Chu Đậu thời Lê Sơ là xã nhỏ ở huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Đây là trung tâm sản xuất gốm sứ cao cấp, xuất hiện từ cuối thời nhà Trần và đến thời Hậu Lê thì bắt đầu phát triển mạnh mẽ.

Chu Đậu chuyên sản xuất đồ gốm sứ cao cấp, đa dạng về các loại hình sản phẩm như chén, bát, hộp sứ, lọ, bình, tước... được trang trí bằng nhiều loại men màu, phổ biến là men trắng trong, hoa lam, men ngọc. Một số sản phẩm tráng tới 2 màu men. Hoa văn chủ đạo là sen, cúc dưới hình dạng phong phú; hình động vật là chim, cá, côn trùng và người.
   


   




    * Bát Tràng
Làng nghề nổi tiếng này hình thành từ thời Lý, Trần và thường cung cấp cống phẩm cho nhà Minh. Trước đây, người làng vốn ở làng Bồ Bát hay Bạch Bát (Thanh Hóa) di cư đến lập nghiệp, đặt tên làng mới là Bạch Thổ phường (phường đất trắng), sau đổi là Bá Tràng phường, cuối cùng mới lấy tên Bát Tràng phường (nơi làm bát).


Sản phẩm của Bát Tràng gồm bát, đĩa, chậu, ấm, bình vôi, bình hoa, gạch, ngói... Men trang trí có phong cách đặc trưng riêng; hình dáng sản phẩm dày dặn chắc khỏe. Sản phẩm gạch Bát Tràng cũng rất nổi tiếng, dùng lát nhiều sân chùa và đường làng.
Những đồ gốm sứ thời Lê Sơ trang trí rồng 5 móng, lòng ghi chữ Quan hay chữ Kính. Như vậy có thể tạm kết luận rằng: việc tìm thấy những đồ ngự dụng trong khu vực khai quật không những cung cấp nguồn tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu về gốm Thăng Long và gốm dùng trong Hoàng cung Thăng Long, mà còn góp thêm bằng chứng tin cậy để củng cố ý kiến cho rằng: các dấu tích kiến trúc lớn ở đây là những cung, điện của trung tâm Hoàng thành Thăng Long

Gốm thời Hậu Lê (1593-1789)
Nhìn chung, gốm thời Lê - Mạc và Lê Trung Hưng có chất lượng thấp, hoa văn trang trí đơn giản và phát triển mạnh theo xu hướng dân gian. Những sưu tập đồ gốm tìm được từ các hố khai quật phần nhiều là sản phẩm của các lò gốm vùng Hải Dương và Bát Tràng. Tình hình này có sự khác biệt lớn so với gốm thời Lê Sơ.

Gốm thời Lê Sơ có bước phát triển đột biến với sự bùng nổ các trung tâm sản xuất gốm lớn, nhất là vùng Hải Dương. Thời kỳ này gốm hoa lam, gốm men trắng và gốm vẽ nhiều màu đạt đến đỉnh cao của sự tinh mỹ. Bằng chứng từ những phát hiện trên các con tàu đắm ở Hội An (Quảng Nam), Pandanan (Philippin)... cho thấy những đồ gốm này đã từng là mặt hàng chủ đạo trong việc xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

  Do gom trong Hoang thanh Thang Long Gom thoi Le  ấm gốm





Gốm thời nhà Mạc.
Chính sách của nhà Mạc đối với công thương nghiệp trong thời gian này là cởi mở, không chủ trương 'ức thương' như trước nên kinh tế hàng hoá có điều kiện phát triển thuận lợi hơn; nhờ đó, sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi. Gốm Bát Tràng thời Mạc có nhiều sản phẩm có minh văn ghi rõ năm chế tạo, tên người đặt hàng và người sản xuất. Qua những minh văn này cho thấy người đặt hàng bao gồm cả một số quan chức cao cấp và quý tộc nhà Mạc như công chúa Phúc Tràng, phò mã Ngạn quận công, Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn, Mỹ quốc công phu nhân... Người đặt hàng trải ra trên một không gian rộng lớn bao gồm nhiều phủ huyện vùng đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ.

Đồ sứ hoa lam thời các Chúa Nguyễn
Giữa thế kỷ XVI đến gần cuối thế kỷ XVIII các chúa Nguyễn truyền nhau cai trị vùng đất Nam Hà. Dựa theo tinh thần: “Cư trần lạc đạo” thời Lý-Trần, chúa Nguyễn đưa ra chủ trương: “Cư Nho mộ Thích”, để ổn định tâm lý xã hội đẩy mạnh việc phát triển đất nước vào phương Nam. Đạo Phật được triều đình lẫn quần chúng nhân dân tích cực ủng hộ.

Trong vương phủ chúa kiến tạo chùa thờ Phật gọi là: “Giác Vương Nội viện”, thường thỉnh các vị cao tăng vào thuyết pháp để tu tập. Các chùa sắc tứ được xây dựng chư chùa Thiên Mụ, Thiền Lâm (ở Huế), Tam Thai (Quảng Nam), Thập Tháp Di Đà (Quy Nhơn), Kim Cương, Từ Ân (Gia Định)... Nam Hà thời này không có lò gốm chuyên môn có thể chế tác từ khí tốt đẹp như các lò gốm truyền thống ở Bắc Hà (Chu Đậu, Bát Tràng, Thổ Hà). Do đó, để phục vụ cho nhu cầu thờ cúng, trang trí cung điện, chùa chiền chúa Nguyễn đã gửi kiểu mẫu qua đặt lò gốm tại Giang Tây - Trung Quốc.
Thuật ngữ đồ sứ ký kiểu (ĐSKK) trong sách này được dùng để chỉ những đồ sứ do người Việt Nam, gồm cả vua, quan và thường dân, đặt làm tại các lò gốm sứ Trung Hoa trong khoảng thời gian từ nửa sau thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, với những yêu cầu riêng về kiểu dáng, màu sắc, hoa văn trang trí, thơ văn minh hoạ và hiệu đề.
    
Những đồ sứ này, trước nay, được biết đến bởi hai tên gọi phổ biến: "bleus de Huê" (Tiếng Pháp) và đồ sứ men lam Huế (Tiếng Việt). Ngoài ra, từ năm 1994 tới nay, các nhà nghiên cúu trong và ngoài nước đã có những cuộc tranh luận trên báo chí về tên gọi cho nhóm đồ sứ này và đưa ra nhiều thuật ngữ khác nhau như: Đồ sứ men trắng vẽ lam, đồ sứ ngự dụng và quan dụng thời Lê - Nguyễn, đồ sứ ký kiểu của Triều Nguyễn, gốm men xanh trắng của triều Nguyễn, gốm lam Huế, đồ sứ đặc chế, đồ Lam Huế, đồ sứ đặt hàng, gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa….



Festival Gốm sứ Việt Nam – Bình Dương 2010 : Festival diễn ra từ ngày 2-8.9.2010, tại thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nhằm tôn vinh gốm sứ, một trong những nghề truyền thống từ lâu đời của Việt Nam. Nhiều hoạt động sẽ diễn ra trong suốt thời gian Festival như: lễ khai mạc với chủ đề “Thăng Long - Gốm Việt”.

Add to Cart More Info

Làng Gốm Bát Tràng

Làng Gốm Bát Tràng

Làng Gốm Bát Tràng

am chen  am chen bat trang



Xã Bát Tràng (缽塲社) gồm hai thôn Bát Tràng và Giang Cao thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Trước đây thôn Bát Tràng là một xã riêng. Thời nhà Hậu Lê, xã Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Sang thời nhà Nguyễn, năm 1822 trấn Kinh Bắc đổi làm trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi làm tỉnh Bắc Ninh. Lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn.

Từ tháng 2 đến tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên. Từ năm 1961 đến nay, huyện Gia Lâm thuộc ngoại thành Hà Nội. Năm 1948, xã Bát Tràng nhập với xã Giang Cao và xã Kim Lan lập thành xã Quang Minh. Nhưng từ năm 1964, tên xã Bát Tràng được khôi phục gồm Bát Tràng và Giang Cao như hiện nay.

Từ Hà Nội, có thể theo đường thuỷ từ bến Chương Dương hoặc bến Phà Đen, xuôi sông Hồng đến bến Bát Tràng, cũng có thể theo đường bộ qua cầu Chương Dương (hay cầu Long Biên) rồi theo đê sông Hồng đến đốc Giang Cao rẽ xuống Bát Tràng (khoảng 15 km) hoặc theo quốc lộ số 5 đến Trâu Quỳ rẽ về phía tay phải theo đường liên huyện qua xã Đa Tốn đến Bát Tràng (khoảng hơn 20 km).

Theo sử biên niên có thể xem thế kỷ 14-15 là thời gian hình thành làng gốm Bát Tràng.

Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép "Làng Bát Tràng làm đồ bát chén" và còn có đoạn "Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê Câu thuộc huyện Văn Giang. Hai làng ấy cung ứng đồ cống cho Trung Quốc là 70 bộ bát đĩa, 200 tấm vải thâm"... 
Nhưng theo những câu chuyện thu thập được ở Bát Tràng thì làng gốm này có thể ra đời sớm hơn. Tại Bát Tràng đến nay vẫn lưu truyền những huyền thoại về nguồn gốc của nghề gốm như sau:

Vào thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều (hay Cảo), Đào Trí Tiến và Lưu Phương Tú (hay Lưu Vĩnh Phong) được cử đi sứ Bắc Tống. Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu (Quảng Đông) gặp bão, phải nghỉ lại. Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho dân chúng quê hương. Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men trắng. Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà (huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc) nước men sắc đỏ. Lưu Phương Tú truyền cho Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc) nước men màu vàng thẫm. Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà và Phù Lãng với ít nhiều sai biệt về tình tiết. Nếu đúng vậy, nghề gốm Bát Tràng đã có từ thời nhà Lý, ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127. 
Theo ký ức và tục lệ dân gian thì trong số các dòng họ ở Bát Tràng, dòng họ Nguyễn Ninh Tràng là cư dân bản địa và lâu đời nhất, nên được giữ vị trí tôn trọng trong ngôi thứ cũng như trong lễ hội của làng. Có ý kiến cho rằng Nguyễn Ninh Tràng là họ Nguyễn ở trường Vĩnh Ninh, một lò gốm ở Thanh Hoá, nhưng chưa có tư liệu xác nhận. Gia phả một số dòng họ ở Bát Tràng như họ Trịnh, Lê, Vương, Phạm, Nguyễn... ghi nhận rằng tổ tiên xưa từ Bồ Bát di cư ra đây (Bồ Bát là Bồ Xuyên và Bạch Bát). Vào thời Hậu Lê và đầu thời Nguyễn, xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hoá Ngoại. Ngày nay, Bồ Xuyên và Bạch Bát là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, vùng này có loại đất sét trắng rất thích hợp với nghề làm gốm. Theo truyền thuyết và gia phả một số họ như họ Vũ ở Bồ Xuyên, ngày xưa cư dân Bồ Bát chuyên làm nghề gốm từ lâu đời. Điều này được xác nhận qua dấu tích của những lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặc tìm thấy nhiều nơi ở vùng này. 
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, Thăng Long trở thành trung tâm chính trị của nước Đại Việt. Do nhu cầu phát triển của kinh thành, nhiều thương nhân, thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long hành nghề và lập nghiệp. Sự ra đời và phát triển của Thăng Long đã tác động mạnh đến hoạt động kinh tế của các làng xung quanh, trong đó có làng Bát Tràng. Đặc biệt vùng này lại có nhiều đất sét trắng, một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm. Một số thợ gốm Bồ Bát đã di cư ra đây cùng họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường (phường Đất Trắng). Những đợt di cư tiếp theo đã biến Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh.

Và đến nay thì vẫn chưa ai biết chính thức về thời gian ra đời của gốm Bát Trang.Từ thế kỉ 15, gốm Bát Tràng đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển, chỉ xin trích lại Gốm Bát Tràng từ thế kỷ 19 đến nay

Trong thời Pháp thuộc, các lò gốm Bát Tràng tuy bị một số xí nghiệp gốm sứ và hàng ngoại nhập cạnh tranh nhưng vẫn duy trì được hoạt động bình thường. 

Sau Chiến tranh Đông Dương (1945–1954), tại Bát Tràng thành lập Xí nghiệp gốm Bát Tràng (1958), Xí nghiệp X51, X54 (1988) cùng một số hợp tác xã như Hợp Thành (1962), Hưng Hà (1977), Hợp Lực (1978), Thống Nhất (1982), Ánh Hồng (1984) và Liên hiệp ngành gốm sứ (1984)... Các cơ sở sản xuất trên cung cấp hàng tiêu dùng trong nước, một số hàng mỹ nghệ và một số hàng xuất khẩu. Những nghệ nhân nổi tiếng như của Bát Tràng như Đào Văn Can, Nguyễn Văn Khiếu, Lê Văn Vấn... đào tạo được nhiều thợ gốm trẻ cung cấp cho các lò gốm mới mở ở các tỉnh. 
Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướng kinh tế thị trường. Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần, những công ty lớn được thành lập nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sản xuất và phổ biến là những đơn vị sản xuất nhỏ theo hộ gia đình. Từ thôn Bát Tràng, nghề gốm nhanh chóng lan sang thôn Giang Cao và đến nay, cả xã Bát Tràng (gồm hai thôn Bát Tràng, Giang Cao) trở thành một trung tâm gốm lớn. 

Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong Việt Nam như các loại ấm chén, bát đĩa, lọ hoa... kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện... và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu. Bát Tràng cuốn hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất. Một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng và nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc... 

Quy trình sản xuất đồ gốm Bát Tràng
Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò".

Người thợ gốm quan niệm hiện vật gốm không khác nào một cơ thể sống, một vũ trụ thu nhỏ trong đó có sự kết hợp hài hòa của Ngũ hành (五行) là kim (金), mộc (木), thuỷ (水), hoả (火) và thổ (土). Sự phát triển của nghề nghiệp được xem như là sự hanh thông của Ngũ hành mà sự hanh thông của Ngũ hành lại nằm trong quá trình lao động sáng tạo với những qui trình kỹ thuật chặt chẽ, chuẩn xác.

Quá trình tạo cốt gốm:



Chọn đất
Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét làm gốm. Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên cơ sở khai thác nguồn đất tại chỗ. Làng gốm Bát Tràng cũng vậy, sở dĩ dân làng Bồ Bát chọn khu vực làng Bát Tràng hiện nay làm đất định cư phát triển nghề gốm vì trước hết họ đã phát hiện ra mỏ đất sét trắng ở đây. Đến thế kỷ 18, nguồn đất sét trắng tại chỗ đã cạn kiệt nên người dân Bát Tràng buộc phải đi tìm nguồn đất mới. Không giống như tổ tiên, dân Bát Tràng vẫn định cư lại ở các vị trí giao thông thuận lợi và thông qua dòng sông bến cảng, dùng thuyền toả ra các nơi khai thác các nguồn đất mới. Từ Bát Tràng ngược sông Hồng lên vùng Sơn Tây, Phúc Yên, rẽ qua sông Đuống, xuôi dòng Kinh Thầy đến Đông Triều, khai thác đất sét trắng ở Hồ Lao, Trúc Thôn.

Đất sét Trúc Thôn có độ dẻo cao, khó tan trong nước, hạt mịn, màu trắng xám, độ chịu lửa ở khoảng 1650°C. Thành phần hoá học (tính trung bình theo % trọng lượng) của đất sét Trúc Thôn như sau: Al203: 27,07; Si02: 55,87; Fe203 1,2; Na2O 0,7; CaO 2,57; MgO 0,78; K2O: 2,01; Ti02: 0,81. Tuy là loại đất tốt được người thợ gốm Bát Tràng ưa dùng nhưng sét Trúc Thôn cũng có một số hạn chế như chứa hàm lượng ôxít sắt khá cao, độ ngót khi sấy khô lớn và bản thân nó không được trắng.

Xử lý, pha chế đất
Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của từng loại gốm khác nhau mà có thể có những cách pha chế đất khác nhau để tạo ra sản phẩm phù hợp. Ở Bát Tràng, phương pháp xử lý đất truyền thống là xử lý thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao khác nhau.

Bể thứ nhất ở vị trí cao hơn cả là "bể đánh" dùng để ngâm đất sét thô và nước (thời gian ngâm khoảng 3-4 tháng). Đất sét dưới tác động của nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thuỷ của nó và bắt đầu quá trình phân rã (dân gian gọi là ngâm lâu để cho đất nát ra). Khi đất đã "chín" (cách gọi dân gian), đánh đất thật đều, thật tơi để các hạt đất thực sự hoà tan trong nước tạo thành một hỗn hợp lỏng. Sau đó tháo hỗn hợp lỏng này xuống bể thứ hai gọi là "bể lắng" hay "bể lọc". Tại đây đất sét bắt đầu lắng xuống, một số tạp chất (nhất là các chất hữu cơ) nổi lên, tiến hành loại bỏ chúng.

Sau đó, múc hồ loãng từ bể lắng sang bể thứ ba gọi là "bể phơi", người Bát Tràng thường phơi đất ở đây khoảng 3 ngày, sau đó chuyển đất sang bể thứ tư là "bể ủ". Tại bể ủ, ôxyt sắt (Fe2O3) và các tạp chất khác bị khử bằng phương pháp lên men (tức là quá trình vi sinh vật hoá khử các chất có hại trong đất). Thời gian ủ càng lâu càng tốt.

Nhìn chung, khâu xử lý đất của người thợ gốm Bát Tràng thường không qua nhiều công đoạn phức tạp. Trong quá trình xử lý, tuỳ theo từng loại đồ gốm mà người ta có thể pha thêm cao lanh ở mức độ nhiều ít khác nhau.

Tạo dáng
Phương pháp tạo dáng cổ truyền của người làng Bát Tràng là làm bằng tay trên bàn xoay. Trong khâu tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến lối "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay, trước đây công việc này thường vẫn do phụ nữ đảm nhiệm. Thợ ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm. Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thật nhuyễn, cuốn thành thoi rồi ném ("bắt nẩy") để thu ngắn lại. Sau đó người ta đặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo mới "đánh cử" đất và "ra hương" chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải. Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết người thợ sẽ dùng sành dan để định hình sản phẩm. Sản phẩm "xén lợi" và "bắt lợi" xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào "bửng". Việc phụ nữ sử dụng bàn xoay vuốt tạo dáng ban đầu của sản phẩm là công việc bình thường phổ biến ở mỗi lò gốm cổ Việt Nam (không chỉ riêng Bát Tràng) nhưng lại rất xa lạ với một số người thợ gốm phương Tây. Tuy thế, kỹ thuật này đã mất dần và hiện nay không còn mấy người thợ gốm Bát Tràng còn có thể làm được công việc này nữa. "Be chạch" cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà và chủ yếu do thợ đàn ông đảm nhiệm.


Tạo dáng



Ngoài việc tạo dáng, tiếp theo thì gốm Bát Tràng còn phải qua một số công đoạn khác.Và để có được màu men, dĩ nhiên là phần tráng men rất quan trọng.

Chế tạo men
Men tro là men đặc sắc của gốm Bát Tràng, ngoài ra còn có men màu nâu, thành phần loại men này bao gồm men tro cộng thêm 5% đá thối (hỗn hợp ôxít sắt và ôxít mangan lấy ở Phù Lãng, Hà Bắc). Từ thế kỷ 15 thợ gốm Bát Tràng đã từng chế tạo ra loại men lam nổi tiếng. Loại men này được chế từ đá đỏ (có chứa ôxít côban) đá thối (chứa ôxít mangan) nghiền nhỏ rồi trộn với men áo. Men lam phát màu ở nhiệt độ 1250°C. Đầu thế kỷ 17 người Bát Tràng dùng vôi sống, tro trấu và cao lanh chùa Hội (thuộc Bích Nhôi, Kinh Môn, Hải Dương) có màu hồng nhạt điều chế thành một loại men mới là men rạn.

Thợ gốm Bát Tràng thường quen sử dụng cách chế tạo men theo phương pháp ướt bằng cách cho nguyên liệu đã nghiền lọc kỹ trộn đều với nhau rồi khuấy tan trong nước đợi đến khi lắng xuống thì bỏ phần nước trong ở trên và bã đọng ở dưới đáy mà chỉ lấy các "dị" lơ lửng ở giữa, đó chính là lớp men bóng để phủ bên ngoài đồ vật. Trong quá trình chế tạo men người thợ gốm Bát Tràng nhận thấy để cho men dễ chảy hơn thì phải chế biến bột tro nhỏ hơn nhiều so với bột đất, vì thế mà có câu "nhỏ tro to đàn".

Tráng men
Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung. Người thợ gốm Bát Tràng thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sản phẩm mộc hoàn chỉnh. Sản phẩm mộc trước khi đem tráng men phải được làm sạch bụi bằng chổi lông. Những sản phẩm mà xương gốm có màu trước khi tráng men phải có một lớp men lót để che bớt màu của xương gốm, đồng thời cũng phải tính toán tính năng của mỗi loại men định tráng nên từng loại xương gốm, nồng độ men, thời tiết và mức độ khó của xương gốm... Kỹ thuật tráng men có nhiều hình thức như phun men, dội men nên bề mặt cốt gốm cỡ lớn, nhúng men đối với loại gốm nhỏ nhưng thông dụng nhất là hình thức láng men ngoài sản phẩm, gọi là "kìm men", và khó hơn cả là hình thức "quay men" và "đúc men". Quay men là hình thức tráng men bên trong và bên ngoài sản phẩm cùng một lúc, còn đúc men thì chỉ tráng men trong lòng sản phẩm. Đây là những thủ pháp tráng men của thợ gốm Bát Tràng, vừa là kỹ thuật vừa là nghệ thuật, được bảo tồn qua nhiều thế hệ, thậm chí đã từng là bí quyết trong nghề nghiệp ở đây.

Quá trình nung:
Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự thành công hay thất bại của một mẻ gốm. Vì thế giờ phút nhóm lò trở nên thiêng liêng trọng đại với người thợ gốm. Người thợ cả cao tuổi nhất thắp ba nén hương và thành kính cầu mong trời đất và thần lửa phù giúp. Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò.

Trước đây người thợ gốm Bát Tràng chuyên sử dụng các loại lò như lò ếch (hay lò cóc), lò đàn và lò bầu để nung gốm, sau này, xuất hiện thêm nhiều loại lò nung khác, càng ngày càng hiện đại và đơn giản trong việc thao tác hơn.

Add to Cart More Info

Thursday, December 26, 2013

Series 4K L9300

Series 4K L9300

84l9300

 Công nghệ Ultra KD 4K
 Series 4K L9300 của Toshiba (84L9300)



 Màn hình rông tương xứng với độ phân giải tuyệt hảo.


 Chi tiết hình ảnh luôn giảm sút khi kích thước màn hình tăng vượt quá 50 inch. Nhưng Toshiba đã khắc phục được hạn chế này thông qua chất lượng hình ảnh ngoạn mục khi sử dụng công nghệ Ultra HD 4K. Sự kết hợp giữa bảng Ultra HD 4K của Toshiba và bộ vi xử lý CEVO 4K đời thứ 2 được chế tạo cho tivi Ultra HD 4K đã mang đến chất lượng hình ảnh chân thực gấp 4 lần so với Full HD.
   Bộ vi xử lý CEVO 4K mạnh mẽ
 Series 4K L9300 của Toshiba (84L9300)


 Tận hưởng gần như chất lượng Ultra HD dù với 2K nội dung.


 Bộ vi xử lý CEVO 4K cung cấp chất lượng hình ảnh hầu như ngang tầm với Ultra HD cho nội dung 1080p như phim Blue-rayTM. Khả năng phục hồi nội dung Ultra HD lên đến 90% so với nguyên bản*. Ví dụ, cấu trúc hình ảnh đã bị giảm khi 4K chuyển xuống định dạng Blue-rayTM sẽ được phục hồi bởi chức năng 4K Fine Texture Restoration, đây là tính năng giúp tích hợp khoanh vùng và tái tạo bề mặt tuyệt hảo theo mức 4K. Tính năng 4K Brilliant Restoration cho hình ảnh rõ nét nhờ sự phân tích phản chiếu hình ảnh, cho hình ảnh sống động chân thật hơn bao giờ hết.


 *Mức độ phục hồi 90* khi chuyển xuống định dạng thấp hơn khi nội dung gốc được ghi hình ở mức 4K. Đã được đo lường và đánh giá bằng Blue-ray DiscTM của Toshiba. Vì 4K là định dạng mới dùng cho công nghệ mới nên sẽ có thể có vấn đề về khả năng tương thích và trình chiếu. Hiện tại, chưa có video 4K nào đạt tiêu chuẩn, bao gồm không giới hạn được trình chiếu trên TV phổ thông. TV này có thể tương thcih1 với nội dung, tiêu chuẩn và dịch vụ như vậy. Tất nhiên định dạng HDMI hoặc các hình ảnh có độ phân giải vượt trội hơn 4K có thể không được hỗ trợ. Có thể cần đến các phần phụ như ổ cứng ngoài, phần mềm Blue-ray DiscTM và Blue-rayTM (đây là nhãn hiệu của Blue-ray Disc Association).

Add to Cart More Info

Ung thư xương chẩn đoán và điều trị

Ung thư xương chẩn đoán và điều trị

Bệnh ung thư xương (sarcom xương) chủ yếu gặp ở bệnh nhân trẻ tuổi. Trong đó ¾ bệnh nhân trong độ tuổi từ 10-30. Nam giới hay bị hơn nữ với tỉ lệ 3:2.


 


Bệnh ung thư xương (sarcom xương) chủ yếu gặp ở bệnh nhân trẻ tuổi. Trong đó ¾ bệnh nhân trong độ tuổi từ 10-30. Nam giới hay bị hơn nữ với tỉ lệ 3:2. Tổn thương gặp chủ yếu tại các xương dài như đầu dưới xương đùi, đầu trên xương chày, vùng xung quanh khớp gối hoặc đầu trên xương cánh tay, xương trụ…Hiếm gặp ở các xương dẹt, ngoài ra còn gặp ung thư xương chậu, chỏm xương cánh tay.

 

Sarcom xương là ung thư xương ác tính đứng hàng thứ hai, sau u tương bào tủy xương (bệnh Kahler), chiếm tỉ lệ 20% các loại u xương ác tính.


 

1. Nguyên nhân

Nguyên nhân ung thư xương chưa rõ, sau đây là một số yếu tố thuận lợi làm bệnh tiến triển.


Bệnh lành tính của xương: có thể chuyển hóa thành ung thư - u tế bào khổng lồ, các chồi xương.


Tia xạ: một số trường hợp dùng tia xạ thấy ung thư tiến triển tại xương.


Chấn thương mạn tính: tỉ lệ ung thư xương cao hơn ở những bệnh nhân có chấn thương tại đầu dưới xương đùi, đầu trên xương chày do tai nạn. Những chấn thương mạn tính có thể kích thích tạo nên ung thư.


Rối loạn gen ức chế ung thư p53.


Yếu tố di truyền: còn đang được nghiên cứu.



Một bệnh nhân ung thư xương ở Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TPHCM


 


Sinh bệnh lý

 


Ung thư xương thường gặp ở bệnh nhân trẻ tuổi, lúc xương và sụn trưởng thành. U phát triển dưới vỏ xương hay ở trung tâm xương, dẫn đến hủy hoại xương khu trú. Tất cả các vùng của xương: xương xốp, khoang tủy xương, vỏ xương, màng ngoài xương và mô xung quanh đều bị tổn thương, đặc biệt lắng đọng màng ngoài xương. Các nguyên bào xương ác tính được đặc biệt hóa từ chất đệm u và làm phát triển nên chất dạng xương của u.


 

Vị trí u

 


Sarcom xương có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí xương nào, nhưng trên 50% quan sát thấy trên các xương dài “gần đầu gối xa khủy tay”. Khoảng một nửa các trường hợp bị tổn thương ở đầu dưới xương đùi hay đầu trên xương chày, khiến cho vùng xung quanh khớp gối là vị trí hay gặp u nhất. Tuy nhiên sarcom xương khung chậu hay đầu trên xương đùi cũng thường gặp.


 

Triệu chứng lâm sàng

 


- Đau: tại vị trí u, thành từng đợt, tiến triển. Da trên vùng u âm, do tăng sinh mạch máu khối u. Có thể xuất hiện sưng, chắc kèm theo mất khả năng vận động ở khớp gần đó. Gãy xương bệnh lý hiếm gặp và thường chỉ thấy ở thể tiêu xương.


- Biểu hiện toàn thân thể trạng suy sụp, mệt mỏi, chán ăn, gầy sút cân nhiều và nhanh, có thể thiếu máu.


Thông thường ung thư xương tiến triển nhanh. Di căn chủ yếu theo đường máu đến phổi, sau đó di căn tới xương. Di căn đến các cơ quan nội tạng và hạch bạch huyết vùng hiếm gặp.


 

Triệu chứng cận lâm sàng

 

Xét nghiệm máu

Tăng phosphatase kiềm máu, tăng calci máu khi có sự hủy xương nhiều.


Chẩn đoán hình ảnh

X quang quy ước: rất đặc hiệu, tuy nhiên hình ảnh tổn thương trên X quang xuất hiện chậm hơn nhiều tuần hoặc nhiều tháng so với lâm sàng. X quang chỉ phát hiện được những tổn thương trên 1cm.


Đặc điểm hình ảnh ung thư di căn xương trên X quang là: tiêu xương, kết đặc xương và thể hỗn hợp. Trong 64% các trường hợp X quang cho phép gợi ý sarcom xương. Sarcom kinh điển cho thấy các hình ảnh khác nhau tùy theo sự biệt hóa của tế bào ung thư. Có thể chiếm ưu thế tăng sinh xương, sụn hay nguyên bào sợi, kết hợp với sự hình thành xương nhiều hay ít.


X quang quy ước cho thấy các tổn thương hỗn hợp xơ hóa và tiêu xương với phản ứng màng xương và khối sưng ở phần mềm. Đôi khi có thể dấu hiệu “bùng nổ mặt trời” (sunburst) do sự tạo thành xương mới. Đó là các gai xương dài, mảnh, hướng vuông góc với xương. Khoảng trong xương đặc trưng bởi ranh giới mở, khi các bè xương bình thường bị thay thế bởi các vùng thấu quang hay kết hợp các vùng thấu quang và cản quang.


Trên X quang cũng có thể phân biệt hai thể sarcom xương: tiêu xương và tạo xương. Trong thể tạo xương tăng cơ xương hành xương, có thể lan tới tận thân xương và tấm sụn đầu xương. Xơ xương đậm đặc ở phí gốc của xương có các đám tiêu xương không đều thô. Vỏ xương bị vỡ ở một số vị trí. Màng ngoài xương cũng bị dày lên, từ đó xuất phát các gai hướng thành các tia. Đối với sarcom xương có thể tiêu xương, trong các u nhiều tế bào hay u sao mạch, quá trình tiêu xương chiếm ưu thế. Có các ổ tiêu xương như mối gặm trong xương xốp và vỏ xương, có thể gây gãy xương ngang qua ở vùng hành xương. U xâm lấn phần mềm, tạo nên hình ảnh bóng mây.


Chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI). CT và MRI rất có giá trị trong việc đánh giá những tổn thương còn ở trong tủy xương, từ đó hướng dẫn sinh thiết tổn thương. Các phương pháp này có độ nhạy và độ hiệu quả trong việc phát hiện ung thư xương


 

Mô bệnh học

 


Chọn sinh thiết: chọc hút qua da bằng kim, dùng kim to chọc vào khối u, lấy thêm một mảnh xương. Ngày nay nhờ có hướng dẫn của chụp CT định hướng kim sinh thiết nên khả năng sinh thiết đúng khối u là rất cao.


Sinh thiết mở: trong trường hợp cần thiết hoặc nghi ngờ chẩn đoán.


Trên tiêu bản mô bệnh học có thể thấy chất dạng xương xắp thành ô vuông, xương và sụn ở giữa chất đệm của u. Có thấy nhiều tế bào u đa nhân khổng lồ, sợi collagen, đám chảy máu và calci hóa.


 

Chẩn đoán

 


Chẩn đoán xác đinh di căn xương dựa vào lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và hình ảnh mô bệnh học.


Chẩn đoán phân biệt

Cốt tủy viêm.

85% gặp ở trẻ em (14 tuổi), nam mắc nhiều hơn nữ.


Nguyên nhân do tụ cầu vàng.

Gặp ở người có ổ nhiễm khuẩn mủ, mụn nhọt hoặc sau gãy xương hở.


Triệu chứng toàn thân: sốt cao, rét run. Tại chỗ: da viêm tấy đỏ, đau, có thể có lỗ rò mủ.


Xét nghiệm: công thức máu, tăng bạch cầu.


X quang: xương mất chất vôi, màng xương bong tách vồng lên, lớp xương mới hình thành ở trong màng xương, có hình ảnh mảnh xương chết nằm trong vùng tổn thương.


Viêm cơ

Nguyên nhân do tụ cầu vàng hoặc liên cầu.


Đau vùng cơ viêm, hạn chế cử động chi do đau.


Xét nghiệm :công thức máu, bạch cầu tăng, máu lắng tăng.


X quang: thường không có gì đặc biệt, có thể thấy dày màng xương ít.



Hình ảnh xquang ung thư xương (ảnh sưu tầm)


 

Điều trị

 


Phương pháp điều trị chủ yếu là phẫu thuật.


Cắt cụt hay phẫu thuật tiết kiệm chi, kết hợp với hóa trị liệu trước và sau phẫu thuật thường được sử dụng.


Trong một số trường hợp có thể lấy bỏ xương một cách độc lập, lấy bỏ toàn bộ xương bả vai, cắt bỏ một đoạn đầu trên xương cánh tay, cắt bỏ xương mác.


Xạ trị ngoài, đây là phương pháp đã được áp dụng từ lâu, tuy nhiên điều trị tia xạ chỉ có tác dụng trong một số trường hợp ung thư xương.


Chiếu xạ vào những vùng di căn với mục đích giảm đau, hạn chế sự phát triển. Phổ biến là strontium -89 và P32(phosphor-32). Chỉ định tia xạ cao từ 70-80 Grey.


Thuốc giảm đau: chống viêm không steroid, xạ trị giảm đau biphosphonat. Nếu có tăng calci máu, lợi tiểu, calcitonin, pamidronat (truyền tĩnh mạch)


 

Tiên lượng

 


Mặc dù tiến triển xâm lấn của bệnh với nguy cơ di căn cao, tỉ lệ sống sau 5 năm và không bị tái phát là từ 40-80% khi điều trị kết hợp phẫu thuật và hóa trị liệu. Nếu chỉ điều trị phẫu thuật đơn độc thì tỉ lệ sống sau 5 năm chỉ là 10-20%.


Tiên lượng dựa theo vị trí của ung thư xương, cần lưu ý những bất thường xương ở những bệnh nhân nhất là bệnh nhân nam giới trẻ tuổi để phát hiện và điều trị bệnh kịp thời.


Ung thư tiền liệt tuyến là một bệnh phổ biến ở nam giới hiện nay, đứng hàng thứ hai sau ung thư phổi. Ở Mỹ mỗi năm có 240 nghìn người mắc và 30 nghìn người tử vong, 10% các ung thư tiền liệt tuyến thấy có biểu hiện tiền sử gia đình, cụ thể là có biến loạn gen GSPT1.


 

 

BSCKII. NGUYỄN MAI HỒNG

Khoa cơ xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai
Add to Cart More Info

Wednesday, December 25, 2013

10 cách giúp bạn giảm thiểu ung thư

10 cách giúp bạn giảm thiểu ung thư

Việc nữ diễn viên Angelina Jolie phải phẫu thuật cắt bỏ ngực để ngừa ung thư đã khiến dư luận thế giới đặc biệt quan tâm. Có lẽ người ta đúng khi nói rằng ung thư không chừa một ai, kể cả ngôi sao hàng đầu thế giới như Jolie, và rằng người nghèo khó thoát hơn, vì không có điều kiện như Jolie.
ung thu da


Nhưng bạn đừng quá bi quan: các nhà khoa học cho rằng 70% nguyên nhân gây ung thư là có thể tránh được bằng cách điều chỉnh lối sống. Ăn kiêng, thể dục và tránh khói thuốc là bước đầu tiên, nhưng còn nhiều điều đơn giản khác bạn có thể làm để cơn ác mộng ung thư không xảy đến.


1. Lọc nước


Bằng việc lọc nước, bạn có thể hạn chế tiếp xúc với các chất gây ung thư. Nước máy và nước đóng chai chưa hẳn đã an toàn. Bạn nên chứa nước trong bình inox hoặc thủy tinh để tránh gỉ sét và các chất độc, nhất là BPA có trong chai nhựa.


2. Tránh tiếp xúc với xăng


Chất benzen trong xăng có thể gây ung thư. Do đó, sau khi đổ xăng, bạn nên nhanh chóng đóng chặt nắp, tránh để cho những chất trong xăng có thời gian khuếch tán ngoài không khí.


3. Ướp thịt



Thịt hun khói, thịt chế biến quá chín ở nhiệt độ cao sinh ra các chất gây ung thư. Các hydrocacbon thơm đa vòng (PAH) từ than cũng xâm nhập vào thịt lúc nướng. Chính vì thế, các bác sĩ khuyên bạn nên hạn chế ăn thịt nướng. Nếu nướng thịt, bạn nên ướp cùng hương thảo và húng tây ít nhất 1 tiếng trước đó. Những chất chống oxy hóa trong các loại gia vị này có thể khử đến 87% PHA.


4. Làm bạn với cà phê



Theo một nghiên cứu ở Anh, 5 tách cà phê mỗi ngày có thể làm giảm 40% nguy cơ u não và ung thư vòm họng. Tuy nhiên, nên lưu ý cà phê phải “thật”, có chứa chất caffeine. Trà cũng có tác dụng tốt nhưng cà phê mới là nhà vô địch.


5. Thanh lọc cơ thể


Uống nhiều nước giúp giảm nguy cơ ung thư bàng quang vì nước giúp hòa tan và thải chất độc khỏi cơ thể nhanh chóng. Hiệp hội Ung thư Mỹ khuyên bạn nên uống ít nhất 8 ly nước mỗi ngày.


 


6. Đốt cháy nguy cơ ung thư


Tập thể dục vừa phải, dễ nhất là đi bộ nhanh, 2 giờ mỗi tuần có thể giảm 18% nguy cơ ung thư vú. Chất béo sản sinh estrogen, một trong những tác nhân gây ung thư vú. Do đó, bạn cần đốt bớt chất béo bằng việc tập thể dục.


7. Thận trọng khi giặt khô


Viện Khoa học quốc gia Mỹ cho biết, họ đã phát hiện một chất gọi là perc, viết tắt của perchloroethylene, dùng trong quá trình giặt khô (dry cleaning). Chất này có thể gây ung thư gan, thận và máu. Những người thợ trực tiếp sử dụng máy giặt và chất giặt tẩy có nguy cơ nhiễm chất này cao nhất. Tuy chưa có kết luận về tác hại trên người mặc quần áo giặt khô, nhưng bạn cứ nên giặt phơi như thường lệ cho “chắc ăn”.


8. Chụp X-quang tuyến vú


Phụ nữ có mật độ vú từ 75% trở lên có nguy cơ ung thư cao gấp 5 lần so với người có chỉ số thấp. Mức estrogen cao làm tăng mật độ vú. Vì vậy, bạn cần vận động để đánh bật mỡ ra khỏi cơ thể. Việc giảm béo còn bật tín hiệu cho protein Adipokin và hormone Insulin ngăn chặn quá trình phát triển của tế bào ung thư.


9. Màu xanh đậm: Tốt nhất cho bạn



Bạn nên chọn món salad nào có màu xanh đậm nhất vì chất diệp lục trong rau xanh chứa nhiều ma-giê. Chất này làm giảm nguy cơ ung thư đại tràng, phổ biến ở phụ nữ. Ma-giê kiểm soát sự phân chia và sinh sôi của tế bào. Nửa bát rau có thể cung cấp 75mg ma-giê, tương đương với 20% nhu cầu cơ thể mỗi ngày.


10. Những hạt đậu thần kỳ


Các loại đậu và hạt, đặc biệt là đậu Brazil chứa nhiều selen, chất chống ung thư bàng quan, phổi và đại-trực tràng hiệu quả. Selen bảo vệ tế bào, tăng cường sức đề kháng và kìm hãm sự hình thành các khối u trong mạch máu.

Add to Cart More Info